Thứ bảy, 16/01/2021 - 12:31|
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE CỦA PHÒNG GD&ĐT YÊN THẾ
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Mãi còn trong nỗi nhớ (20/11/2018)


       Xa Sơn Động đã hơn ba mươi năm, nhưng hình ảnh con người và mảnh đất ấy vẫn thỉnh thoảng hiện về chập chờn trong giấc ngủ của tôi.

       Ngày ấy năm 1980, mới 21 tuổi, cái tuổi tràn căng sức sống thanh xuân. Tốt nghiệp trường trung cấp sư phạm 10+2 Hà Bắc, tôi hăm hở viết đơn tình nguyện “Đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi tổ cuốc cần, nguyện đem ánh sáng văn hóa của Đảng đến những bản làng xa xôi hẻo lánh.” Thế là tôi cùng 10 anh em cả khóa quyết định lên dạy học nơi vùng cao Sơn Động.

       Đêm trước ngày lên đường nhận công tác, cả nhà tôi trằn trọc không ai ngủ được. Mẹ thì thầm với bố: “Khổ thân, từ bé đến giờ đã đi xa bao giờ đâu”. Bố tôi tặc lưỡi: “Chiến tranh, người ta ra chiến trường còn được, bà lo gì?”.

       Chia tay tôi, mẹ rơm rớm nước mắt. Chuyến xe “bão táp” đưa chúng tôi vượt ổ voi, sống trâu, những dốc cao thăm thẳm, những vực sâu hun hút, đường ngầu lên những bụi. Mới dầu còn háo hức, sau đó anh em ngủ gà ngủ gật. Bỗng ai đó trong xe nói to: “Đến đất Sơn Động rồi” chẳng ai bảo ai, chúng tôi choàng dậy mắt dán vào cửa kính ô tô. Chao ôi! Núi, núi trập trùng dăng hàng. Ô tô trả khách, đón khách nhộn nhạo, xe khật khừ như một ông già. Có người rên rỉ: “Chạy thế này thì bao giờ mới đến An Châu”. Bác tài phân bua: “Mọi người thông cảm, cả ngày mới có hai chuyến xe, người thì đông xe lại cũ.”

       Tám giờ tối, chúng tôi cũng đến được An Châu trung tâm huyện lỵ của Sơn Động. Mọi người xuống xe nhìn nhau không ai nhịn được cười cứ như chui từ trong đống bụi ra.

       Ngủ lại một đêm ở Phòng Giáo dục Sơn Động, hôm sau chúng tôi được phân về các trường. Trường xa nhất từ An Châu còn phải đi 3-4 chục km nữa mới đến, tôi về Lệ Viễn cách An Châu chừng 7 km. Anh Xuyên quê ở huyện Việt Yên có tài cắt kẻ vẽ nên được giữ lại Phòng Giáo dục.

       Lệ Viễn có 8 bản đó là: Thanh Trà, Thia, Nà Phai, Cướm, Lạnh, Lọ, Tu Nim, Nà Cái, xã có tới 80% dân tộc ít người Sán Dìu, Sán Chí.

       Sau bữa cơm tối ngồi uống nước, anh Hoàng Minh Tân- Hiệu trưởng quê Yên Dũng bảo tôi:

       - Chú là trai trẻ khỏe, tăng cường cho khu lẻ hộ tớ!

       - Vào đâu ạ? - Tôi hỏi lại.

       - Cướm, cách đây khoảng 2 km.

       Thế là nghỉ lại một đêm một ngày ở Thia (khu chính) tôi lại hành quân lên Cướm. Bản Cướm 100% dân người Sán Chí.

       Lớp học đây ư? Một dãy nhà xiêu vẹo, mái lợp cỏ tranh dột nát, ngăn giữa các lớp là những tấm phên nứa mà nào có được kín, học sinh có thể thoải mái ngồi ở lớp này nghe thầy cô ở lớp bên giảng bài. Bàn ghế được đẽo từ những thân cây. Cướm có 5 lớp từ lớp 1 đến lớp 5, có 5 thầy cô thì chỉ duy nhất tôi là con trai, nhà tập thể của giáo viên cũng nhà tranh nhưng tường trình.

       Những đêm đầu tiên tôi không sao ngủ được, lòng chộn rộn bao suy nghĩ vừa nhớ nhà sen lẫn lo âu và thoáng qua nỗi buồn chán, có nhiều điều trong giáo trình nào có dạy thử thách đầu tiên của đời mình là đây.

       Khai giảng xong mà lớp lèo tèo chưa đầy một chục học sinh, ngoài giờ lên lớp, chúng tôi lao vào lao động làm bếp, làm các công trình vệ sinh rồi vào bản vận động học sinh đi học. Chị Tư quê ở Lục Nam cao tuôi nhất được mọi người bầu làm khu trưởng. Chị chín chăn ít nói hay làm, việc gì cũng đi đầu. Chị có câu nói cửa miệng: “Phải tự cung tự cấp chứ, lấy tiền đâu mà mua”. Chúng tôi cuốn theo chị vào phong trào tăng gia sản xuất. Từ lúc nơi ở hoang sơ năm ngày mới có một phiên chợ An Châu rau mua về để héo, đến lúc chúng tôi thừa thải rau ăn. Năm người mà có lúc trong chuồng đến 4-5 chục con gà từ 1 kg trở lên. Oanh em út của khu (quê thành phố Bắc Giang)- Lúc nào cũng “eo ôi em sợ lắm” những ngày đầu chả dám đi đâu sau quen dần cũng xông xáo chẳng kém các anh các chị.

       Thời gian trôi đi, chúng tôi quen dần với môi trường mới, khu Cướm đã ngập tràn trong tiếng hát, tiếng cười. Những đêm trăng sáng, thanh niên rồi học sinh trong bản đến chơi với thầy cô giáo rất đông. Thầy cô dạy các em, các bạn thanh niên những bài hát điệu múa và học ở các em, các bạn thanh niên tiến dân tộc.

       Năm học 1981-1982, BGH nhà trường chủ trương kết nghĩa giữa chi đoàn nhà trường với chi đoàn địa phương, từ đó nhà trường với chi đoàn địa phương có thêm nhiều buổi tu sửa lớp học, cơ sở vật chất. Bởi thế trường dần khang trang hơn.

       Dạy học ở miền núi, một trong điều chúng tôi ngại nhất là đi đong gạo. Cả khu không có nổi một chiếc xe đạp, chỉ có 13 cân một người thôi mà mỗi lần phải 2-3 người cùng đi, thay nhau gánh. Tôi dồn tất cả vào một chiếc ba lô đeo lên vai như bộ đội hành quân. Có lần gạo về gần đến trường rồi, cơn mưa lũ ào tới, nước suối dâng cao, người đi mua gạo, người ở nhà đứng chờ hai bên bờ suối nhìn nhau, dân bản biết đến sẻ chia người củ sắn, cái bắp ngô nên thầy cô cũng chẳng chịu đói.

       Khi viết những dòng này, lòng tôi lại xốn xang nhớ tới mẹ Ún- người Sán Dìu ở bản Nà Phai cách nơi tôi ở chừng 1 km, nhớ tới Hương – cô bạn đồng nghiệp quê ở Sơn Động dạy cùng khu với tôi. Ngày ấy cuối năm 1982, do không quen khí hậu tôi lăn ra ốm, cơn sốt tai quái đè bẹp tôi xuống giường. Hương lên lớp thay tôi, cả khu nháo lên cử người đi mua thuốc. Hương ân cần bón cho tôi từng thìa cháo, những lúc mỏi quá ngủ lịm đi, tỉnh dậy thấy em âu lo nhìn tôi.

       Thấy thầy giáo ốm, học sinh vào chơi rất đông, đứa nải chuối, trái cây, đứa chục trứng gà, tôi không nhận chúng vứt ra giường rồi ù té chạy. Tối –Cam cậu học sinh lớp tôi chủ nhiệm – dắt mẹ đến, mẹ Ún nhìn tôi:

       - Ấy dà, anh giáo bị sôt rét đấy mà, uống vài bát thuốc của già là khỏi ngay thôi mà.

       Hương nhanh nhẹ đón gói thuốc mẹ đưa cho vào ấm đất đổ nước vào và đun lên bắt tôi uống. Giời ạ, thuốc gì mà đắng thế, tôi nhổ phì phì. Hương đến bên tôi dỗ như dỗ em nhỏ:

       - Ngoan nào, uống đi cho chóng khỏi!

       Tôi và em cùng cười, tôi lấy hết can đảm uống trọn số thuốc, thêm vài thang nữa tôi khỏi hẳn. Nhưng khỏi sốt rét rồi tôi lại mắc căn bệnh mới đó là bệnh nhớ em. Về thăm nhà chỉ vài ngày là tôi lại nhào lên với em. Có lần tôi nói với em: “Hương ơi! Ước gì bây giờ anh lại ốm nữa nhỉ!”. Em nguýt tôi một cái thật dài: “Phỉ phui cái miệng anh, nếu thế thì anh sẽ nằm co một mình”.

       Nhớ một lần tôi và em đi lấy măng rừng, em quen đường hơn tôi lên xung phong đi trước, gặp đóa hoa phong lan mọc trên một thân cây chênh vênh bên bờ suối, em bảo: “Để em lấy về treo cửa sổ phòng anh”. Tôi nói: “Nguy hiểm lắm em ơi, em đừng liều”.            Chưa nói hết câu thì em đã thoăn thoăt bước tới giơ tay lấy. Chợt em trượt chân chới với, tôi kịp lao tới túm tay em giật mạnh, em ngã nhoài vào lòng tôi. Thật hú vía! Chỉ chậm một giây thôi là em lao xuống vực. Em ngả đầu vào ngực tôi hổn hển, mồ hôi túa ra. Sau vài giây trấn tĩnh, tôi nói với em: “Thôi qua rồi em ạ!”, em khẽ “Vâng”. Tôi cúi xuống soi gương mặt mình trong mắt em, đất trời như chao đảo.

       Em bước vào trái tim tôi rồi vội vã ra đi, năm học sau, em chuyển về dạy học xã nhà, để cho tôi một nỗi buồn chông chênh. Em không nói ra nhưng tôi cũng hiểu, nhà có ba anh em, chỉ có em là gái lại là út. Từ bé đến lớn, em luôn được sống trong sự cưng chiều và sắp đặt của bố mẹ. Tôi chẳng trách em chỉ tự an ủi: “thôi cũng là số phận”

       Nhưng tạo hóa vốn công bằng, không còn em nhưng tôi lại có thêm những người bạn mới, anh ban vong niên Nguyên Quốc Dương nguyên là giáo viên, lúc bấy giờ là Ủy viên thư ký Ủy ban huyện Sơn Động là hội viên Hội văn nghệ Hà Bắc. Anh cho phép tôi mắc sức sở hữu tủ sách có đến hàng trăm cuốn của anh. Anh coi tôi như em, anh đang bận học ở trường Nguyễn Ái Quốc, từ nơi tôi ở đến nhà anh chừng 3 km, thỉnh thoảng rối rãi, tôi đến chơi nhà anh gặp cơm thì ăn, gặp việc thì làm. Tôi với anh thường đàm đạo văn chương, anh khuyên tôi có thời gian nên đọc, đi, và viết. Thời gian này, tôi có một số bài thơ đăng báo Hà Bắc và văn nghệ Hà Bắc.

       Cuối năm 1983, tôi được kết nạp vào Hôi văn nghệ tỉnh nhà. Có những lúc nhớ nhà, buồn chán, tôi đã vịn vào những câu thơ mà đứng vững, thêm yêu cuộc sống hơn. Lần nào về thăm gia đình là tôi đều ghé qua trụ sở của Hội văn nghệ đọc các sáng tác mới của mình cho nhà thơ Duy Phi, Anh Vũ, Trần Anh Trang nghe. Các anh đã tân tình chỉ bảo cho tôi từng li từng tí, sửa cho tôi từng câu thơ ý văn.

       Quên sao được một đêm đông giá lạnh, nhà thơ Anh Vũ đi thực tế tại Sơn Động ghé vào thăm tôi. Đêm ấy bên bếp lửa, tôi với ông thức, ông sửa cho tôi từng câu thơ. Trời rét lắm, tôi chỉ có một chiếc chăn bông mỏng. Không ngủ được, chúng tôi đốt lửa ngôi sưởi đến sáng. Hôm sau ông lại đi tới các đội trồng rừng, khai thác gỗ, tôi đi tìm ông, núi rừng ngàn ngạt, biết tìm ông ở đâu? Ông đi tìm câu thơ giữa ngàn xanh.

       Nhà văn Đỗ Chu, Đỗ Nhật Minh cũng hay đi thực tế Sơn Động, có lần tôi được hầu chuyện nhà văn Đỗ Chu, ông thật uyên bác nói cổ kim đông tây đủ thư chuyện, tôi một giáo viên sống nơi xó rừng thiếu đủ mọi thông tin cứ há mồm ra nghe. Nhà văn Đổ Nhật Minh có bút ký viết về anh Nguyễn Gia Vân quê huyện Tiên Sơn (nay là tỉnh Bắc Ninh). Anh là phó trưởng phòng có nhiều đóng góp cho giáo dục Sơn Động. Hơn ba mươi năm rồi mà tôi vẫn nhớ như in một chi tiết anh Vân được ví như một cây xanh vươn lên khỏe khoắn giữa núi rừng Sơn Động. Bài viết đâu chỉ là nguồn động viên anh Vân mà còn động viên tất cả những giáo viên dưới xuôi lên côn tác miền núi.

       Sáu năm công tác Sơn Động, năm học 1986-1987, tôi được điều về dạy học huyện nhà. Xa mảnh đất ghập ghềnh đá sỏi, mùa hạ chang chang nắng, mùa đông tê tái lạnh, xa nhưng con người chân chất mộc mạc, lòng tôi vời vợi nỗi nhớ. Không nhớ sao được khi nơi ấy ấp ưu bao kỷ niệm đầu đời dạy học của tôi.

       Trong dòng chảy của cuộc đời của thời gian, giờ chỉ còn vài tháng nữa là tôi được về hưu soi vào những tháng năm nơi đây, tôi càng thấm thía hơn ý nghĩa của câu thơ: “Khi ta ở đất chỉ là đất ở, khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Hơn ba mươi năm rồi, bao người bạn tôi không được gặp lại, chỉ mong bài viết nhỏ này như một lời cảm ơn chân tình tới mảnh đất và con người Sơn Động.

                                                          Vũ Hoàng Nam    (Yên Thế-11-2018)


Nguồn:pgdyenthe.edu.vn Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết